NGỌC HỒI TRONG TÔI – KÝ ỨC SÁU THẬP KỶ – CỰU HỌC SINH 3 LỚP K5 TRƯỜNG THPT NGỌC HỒI – TỪ TUỔI THƠ ĐẾN TUỔI VÀNG

NGỌC HỒI TRONG TÔI – KÝ ỨC SÁU THẬP KỶ

Cựu học sinh ba lớp K5 Trường THPT Ngọc Hồi – Từ tuổi thơ đến tuổi vàng

Bài viết hưởng ứng đợt phát động chung tay gom góp kỷ vật, ký ức hướng tới Đại lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Trường THPT Ngọc Hồi (1966–2026).

 

Kính gửi: Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô, quý vị đại biểu, quý cựu học sinh

và các cháu học sinh thân mến!

Hưởng ứng đợt phát động chung tay gom góp những kỷ vật, ký ức hướng tới Đại lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Trường THPT Ngọc Hồi, tôi là Lục Thị Nga, cựu học sinh, nguyên lớp trưởng các lớp 8D – 9D.A – 10A, niên khóa 1970–1973 (K5). Tôi được các bạn trong Ban Liên lạc cựu học sinh ba lớp K5 ủy nhiệm trao gửi những kỷ vật, ký ức của ba lớp với chủ đề:

“NGỌC HỒI TRONG TÔI – KÝ ỨC SÁU THẬP KỶ”

Những trang viết này xin được gửi về mái trường thân yêu như một chút tình, một chút nhớ, một lời tri ân của những người học trò năm xưa.

Nội dung gồm ba phần:

Phần 1: Bối cảnh về Trường, lớp – ký ức giữa Thầy và Trò ba lớp 8D – 9D.A – 10A, K5 (1970–1973).

Phần 2: Ký ức giữa Thầy và Trò K5 với cuộc sống – Tự hào và biết ơn.

Phần 3: Lời nhắn nhủ thế hệ con cháu.

PHẦN 1

              BỐI CẢNH VỀ TRƯỜNG, LỚP – KÝ ỨC GIỮA THẦY VÀ TRÒ BA LỚP K5 (1970–1973)

Trường Cấp 3 Ngọc Hồi – nay là Trường Trung học phổ thông Ngọc Hồi – được thành lập từ năm 1966. Chúng tôi vào trường năm 1970 và kết thúc khóa học vào năm 1973.

Năm nay, Trường kỷ niệm sinh nhật tuổi 60. Khi vào học, lớp chúng tôi mới ở tuổi 14–16; khi ra trường, mỗi người mang theo những ước mơ của tuổi trẻ. Còn hôm nay, chúng tôi đều đã ở tuổi U75, U80. Nhà trường ở tuổi 60 vẫn còn rất trẻ trong hành trình xây dựng và phát triển. Còn chúng tôi – những cựu học sinh năm xưa – đã bước sang “tuổi vàng”, đã đi qua phần lớn chặng đường của cuộc đời.

Có lẽ cũng chính vì thế mà khi nhìn lại, những ký ức về mái trường, về Thầy Cô, về bè bạn của một thời tuổi trẻ bỗng ùa về. Có những kỷ niệm tưởng như đã ngủ yên hơn nửa thế kỷ, vậy mà chỉ cần một hình ảnh, một cái tên, một câu chuyện được nhắc lại, tất cả lại hiện lên thật gần gũi. Tôi đã nhiều lần ngồi trước trang giấy, muốn viết về những năm tháng ấy, nhưng có lúc ký ức khiến lòng mình chùng xuống, mắt nhòa đi. Phải dừng lại một lúc, hít thở thật sâu, rồi mới có thể viết tiếp.

Những ngày đầu dưới mái trường Ngọc Hồi

Năm chúng tôi vào lớp 8D (1970–1971), cô Nguyễn Thị Nhã là giáo viên chủ nhiệm. Đây cũng là

năm đầu tiên Nhà trường triệu hồi các lớp đang tản mạn ở những nơi sơ tán về tập trung tại địa điểm của Trường THPT Ngọc Hồi ngày nay. Cơ sở vật chất khi ấy thiếu thốn đủ thứ: từ lớp học, bàn ghế, bảng phấn đến sách giáo khoa, bút vở… Học sinh chúng tôi vừa học, vừa cùng Thầy Cô xây dựng trường. Chúng tôi tự gồng mình cõng tre, rơm đến trường; móc bùn đất trộn rơm để trát vách; đào ao lấy đất san lấp tạo sân chơi; trồng cây quanh trường; chẻ nan quây, chống thân cây; quét vôi từng gốc phi lao,… Cả sân trường khi ấy lúc nào cũng náo nhiệt như một công trường xây dựng. Thầy và Trò cùng làm việc, cùng háo hức chờ ngày khai giảng. Ngày ấy, chúng tôi lao động miệt mài, mệt thì thật là mệt, nhưng vui cũng thật vui!

Những việc tưởng như rất nhỏ bé ấy, sau hơn nửa thế kỷ nhìn lại, lại trở thành những ký ức đẹp đẽ. Bởi chúng tôi không chỉ học tập dưới mái trường ấy, mà còn góp một phần công sức nhỏ bé của mình để dựng xây chính ngôi trường đã nuôi dưỡng tuổi trẻ của mình.

Những năm tháng chiến tranh

Khóa học của chúng tôi khá đặc biệt. Chiến tranh ở cả hai miền đất nước đang trong những năm tháng khốc liệt. “Miền Nam gọi, miền Bắc trả lời” – hàng triệu sinh viên, học sinh theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tình nguyện viết đơn xin nhập ngũ. Hòa chung không khí ấy, lớp 9D (1971–1972), do thầy Tuấn Anh chủ nhiệm, đã vinh dự tiễn bốn bạn lên đường nhập ngũ. Sau đó, Nhà trường phải cơ cấu lại các lớp học vì nhiều học sinh đã nhập ngũ, đồng thời có thêm học sinh từ Hà Nội sơ tán về. Lớp 9D được sáp nhập thêm một số bạn lớp 9B và đổi tên thành lớp 9A, do thầy Trần Đình Hưng chủ nhiệm, vì thầy Tuấn Anh mắc bệnh hiểm nghèo và không may qua đời khi mới 37 tuổi. Từ đó, trong những lần hội lớp sau này, chúng tôi vẫn giữ tên gọi kép 9D.A, để nhớ cả những bạn từ lớp 9D đã lên đường nhập ngũ và những bạn từ lớp 9B chuyển sang.

Khai giảng năm học 1972–1973, lớp 10A do thầy Trịnh Văn Giáp chủ nhiệm. Học được khoảng mười ngày, lớp lại tiếp tục tiễn hai bạn tình nguyện nhập ngũ; đến đầu học kỳ II, thêm hai bạn nữa lên đường.

Cuối năm 1972, Hội nghị Paris về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” bước vào giai đoạn quyết định. Đế quốc Mỹ tăng cường ném bom hủy diệt Hà Nội. Gia đình và Nhà trường phải hứng chịu bom đạn suốt ngày đêm, đặc biệt là 12 ngày đêm B52 cuối tháng 12 năm 1972.

Nhiều gia đình học sinh bị tàn phá. Trong đó, gia đình bạn Nguyễn Thị Hòa đã chịu một mất mát vô cùng đau thương. Bom Mỹ đã cướp đi sáu người thân yêu của Hòa khi cả gia đình đang trú trong một căn hầm. Hòa là người duy nhất sống sót, nhưng bị thương nặng, phải điều trị dài ngày và buộc phải rời xa mái trường, xa bè bạn khi năm học cuối còn dang dở.

Năm học ấy, kỳ thi tốt nghiệp lớp 10 phải lùi lại muộn hơn so với những năm trước. Ngày 20/7/1973, toàn thể học sinh khối 10 được nghỉ ở nhà tự ôn tập, chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp vào ngày 30 và 31/7/1973.

Buổi học cuối cùng

Buổi học cuối cùng, cũng là buổi chia tay Trường, chia tay lớp, chia tay Thầy – Trò – bè bạn, đã trở thành một ký ức không thể nào quên. Chúng tôi nhớ mãi lời căn dặn trước giờ chia tay của thầy chủ nhiệm Trịnh Văn Giáp:

Các em như những bông hoa ngoài nắng, biết hướng về ánh mặt trời, đang tỏa hương thơm ngát và hứa hẹn những kết quả thơm ngon. Ra trường rồi, mỗi em mang theo một ước mơ cháy bỏng của riêng mình. Hãy học hết mình, sống hết mình để đạt được ước mơ đó. Chúng ta ai cũng có một đôi mắt, một đôi tay và một trái tim. Hãy để cho đôi mắt phân định rõ mọi điều hay, lẽ phải; hãy để cho đôi tay được làm việc miệt mài; và hãy để cho trái tim được trao đi hết thảy mọi tình yêu thương đến nhịp đập cuối cùng…

Nói rồi, Thầy đứng nghiêm giữa bục giảng, từ từ cúi gập người – chào cả lớp.

Không khí khi ấy thật trang nghiêm và im lặng. Ba mươi giây… rồi bốn mươi giây… Có tiếng sụt sịt, thút thít khe khẽ. Rồi tất cả vỡ òa. Cả lớp lao lên quây lấy Thầy:

“Kính chúc Thầy mạnh khỏe! Chúng em sẽ nhớ Thầy! Ơn Thầy, chúng em mãi mãi không quên!”

Tạm biệt Cấp 3 Ngọc Hồi thân yêu!

Hẹn một ngày gặp lại!

Từ đó, ba năm học dưới mái trường Cấp 3 Ngọc Hồi từng bước đi vào ký ức của mỗi chúng tôi.

PHẦN 2

                 KÝ ỨC GIỮA THẦY VÀ TRÒ K5 VỚI CUỘC SỐNG – TỰ HÀO VÀ BIẾT ƠN

Ra trường vào đầu tháng 8 năm 1973, mỗi chúng tôi như những cánh chim bay về mỗi ngả. Thời ấy chưa có điện thoại, Zalo, Facebook hay những phương tiện kết nối như hôm nay. Vì vậy, sau khi ra trường, chúng tôi gần như mất liên lạc với nhau. Mãi đến năm 2017, sau 44 năm xa cách, chúng tôi mới kết nối lại được với nhau và tổ chức cuộc gặp mặt cựu học sinh ba lớp K5 lần thứ nhất. Công đầu trong việc tìm kiếm địa chỉ các bạn phải kể đến các bạn Nguyễn Đăng Chính, Đỗ Đình Lợi và Nguyễn Đình Ất. Ngày hội ngộ sau 44 năm, ai nấy đều xúc động. Có niềm vui, có sự bồi hồi, có cả những phút mừng mừng, tủi tủi. Những cái tên, những gương mặt, những câu chuyện của hơn bốn thập kỷ trước lần lượt trở về. Từ đó, mỗi năm chúng tôi gặp nhau một lần để ôn lại những kỷ niệm dưới mái trường Cấp 3 Ngọc Hồi; hỏi thăm tin tức Thầy Cô, bạn bè; chia sẻ với nhau chuyện vui, chuyện buồn, chuyện hiếu, hỉ, ốm đau của gia đình,… Cả các anh chị em dâu, rể của lớp cũng trở thành những người bạn thân thiết. Chúng tôi cùng nhau đi du lịch, giao lưu, trải nghiệm và lưu giữ những kỷ niệm bằng ảnh, bằng lời kể, bằng những video tự quay, tự thiết kế sau mỗi lần gặp mặt. Những “album ký ức” ấy ngày càng dày thêm.

Album thứ nhất: Những chiến binh – cựu học sinh C3 Ngọc Hồi

Đầu học kỳ I lớp 9D, ngày 06/01/1972, chúng tôi vô cùng tự hào nhưng cũng bịn rịn tiễn bốn bạn tự nguyện xếp bút sách lên đường nhập ngũ: Phạm Công Nông, Dương Văn Sửa, Trần Văn Tiến và Phạm Quang Hiệp. Khoảng tháng 9 cùng năm, lớp 10A tiếp tục tiễn các bạn Nguyễn Đình Ất và Nguyễn Văn Hậu vào quân ngũ; sau đó là Nguyễn Văn Sơn và Trương Tiến Giáp vào Bộ đội Biên phòng.

Như vậy, chỉ trong chưa đầy hai năm học, lớp chúng tôi đã có tám bạn rời ghế nhà trường lên đường thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc. Sau khi ra trường năm 1973, ba lớp K5 lại tiếp tục có thêm mười một bạn lên đường làm nhiệm vụ ở mặt trận Tây Nam, biên giới phía Bắc và chiến trường Campuchia.

Bạn Vũ Đức Thắng từng rất xúc động kể về những giờ phút đấu tranh với chính mình khi phải lựa chọn giữa tấm giấy gọi nhập học Trường Cao đẳng và việc nhập ngũ trở thành người lính. Cuối cùng, chính những tấm gương của các bạn đi trước đã giúp Thắng quyết định lên đường cứu nước. Bạn Nguyễn Thị Bàn (Nguyễn Cẩm Hà) – nữ chiến sĩ Quân y – nghẹn ngào kể về đơn vị “Điều trị 5” đóng quân tại Phnom Penh, nơi Cẩm Hà trực tiếp điều trị cho nhiều cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân đội Nhân dân Campuchia. Trong số những người được đơn vị Quân y chăm sóc tại Campuchia cũng có những cựu học sinh Ngọc Hồi. Đó là sự cống hiến thầm lặng nhưng đầy ý nghĩa, góp phần làm rạng rỡ truyền thống của ba lớp K5 Trường THPT Ngọc Hồi trên trường quốc tế.

Ngay trong lần đầu gặp lại lớp sau 45 năm xa cách, bạn Phạm Quang Hiệp – cựu chiến binh, nguyên Trưởng Ban Lịch sử công tác Đảng, công tác Chính trị, Bộ Tư lệnh Thủ đô – đã hỏi thăm thầy chủ nhiệm lớp 9D, thầy Tuấn Anh. Thầy Tuấn Anh dạy Vật lý, mê bóng đá và có nhiều tài lẻ. Thầy từng cùng học sinh đá bóng nhiều trận trên sân trường. Thầy khuyên chúng tôi thường xuyên rèn luyện sức khỏe để học tốt, sống tốt; đồng thời dạy những kỹ năng sống từ những việc rất nhỏ. Điều khiến chúng tôi xúc động nhất là sau khi bốn học sinh chính thức trở thành những người lính cầm súng bảo vệ Tổ quốc, Thầy vẫn căn dặn lớp giữ nguyên tên các bạn trong sổ điểm; giữ lại những bài kiểm tra mà Thầy Cô đã trả, để nếu các bạn trở về còn có thể được xét học tiếp hoặc xét đặc cách tốt nghiệp. Thầy đã gieo vào lòng học trò niềm tin rằng ngày đất nước chiến thắng sẽ không còn xa. Niềm tin ấy theo các bạn trên thao trường, trên mỗi bước đường hành quân, qua những trận đánh ác liệt,… cho đến ngày trở về. Bạn Hiệp đã trực tiếp tham gia ba cuộc chiến tranh: chiến tranh chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam; và chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc. Niềm tin được gieo từ mái trường năm ấy cũng thôi thúc bạn không ngừng học tập, vươn lên và sau này đạt bằng Cử nhân Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước. Bạn Nguyễn Đình Ất rất tự hào kể về Trung đoàn E66 – F304, đơn vị chiến đấu mà bạn trực tiếp tham gia trong những ngày tháng lịch sử mùa Xuân năm 1975.

Hai chiếc xe tăng của Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2 – xe 843 và xe 390 – những nhân chứng lịch sử – đã húc đổ cánh cửa Dinh Độc Lập. Vào thời khắc lịch sử trưa ngày 30/4/1975, chiến sĩ thông tin 2W Nguyễn Đình Ất đã có mặt tại nóc Dinh Độc Lập.

Những câu chuyện ấy, sau hơn nửa thế kỷ, được kể lại không phải để nói về mình, mà để chúng tôi cùng nhớ về một thế hệ học sinh đã lớn lên trong chiến tranh, đã lựa chọn trách nhiệm với đất nước khi tuổi đời còn rất trẻ.

Trở về sau những cuộc chiến

Kết thúc ba cuộc chiến tranh giữ nước, chúng tôi vui mừng và tự hào đón 18/19 bạn nhập ngũ

trở về quê hương, tiếp tục học tập, rèn luyện, xây dựng gia đình và cuộc sống mới. Trong số đó, có ba bạn học lên và đạt trình độ cử nhân đại học: Phạm Quang Hiệp, Trương Thị Phúc, Nguyễn Đăng Chính. Có ba bạn trở thành những doanh nhân thành đạt: Trần Xuân Bính – doanh nhân vàng bạc; Nguyễn Đình Ất – doanh nhân ô tô, khách sạn; Nguyễn Đăng Chính – doanh nhân thi công xây dựng.

Nhưng bên cạnh niềm vui đoàn tụ, chúng tôi cũng nghẹn lòng khi nhớ đến bạn Phạm Công Nông – một trong những học sinh nhập ngũ sớm nhất – đã hy sinh anh dũng tại chiến trường Quảng Trị năm 1972, khi vừa bước vào tuổi 18.

Bạn Hiệp từng nói thay những người đồng đội nay đã trở thành các cựu chiến binh: Chúng tôi luôn nghĩ những đồng đội hy sinh là để mình được sống trở về, nên mình không bao giờ được quên. Vì thế, còn sức ngày nào, chúng tôi còn kể về họ, tri ân họ, còn đi tìm họ và còn giúp đỡ gia đình họ. Với người lính chúng tôi, chừng nào còn có thể kể lại tên một người đồng đội, chừng đó họ vẫn chưa thực sự rời xa. Từ tâm niệm ấy, cựu chiến binh Phạm Quang Hiệp đã tích cực tham gia và động viên anh em viết lại những kỷ niệm sâu sắc trong chiến đấu, biên tập thành bộ sách “Ký ức chiến tranh của chiến sĩ Hà Nội trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”, do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân in và phát hành từ năm 2011, đến nay đã ra được bảy tập.

Đó cũng là một cách tri ân đồng đội, gìn giữ ký ức và trao truyền truyền thống cho thế hệ trẻ.

Album thứ hai: Những người trở về với cuộc sống đời thường

Khóa học chúng tôi hầu hết sinh ra vào những năm 1954–1956, trong thời bình. Nhưng khi lớn lên lại gặp ba cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và trưởng thành trong những năm đất nước còn nghèo, kinh tế khó khăn, khoa học – công nghệ còn lạc hậu. Vì vậy, số người giàu có, học cao trong lớp không nhiều. Có bạn sống bằng nghề làm vườn, trồng rau, cây hoa quả; có bạn bán hàng tạp hóa ở chợ quê; có bạn làm thợ máy, thợ may, công nhân… Nhưng tất cả đều là những công dân tốt, biết sống tử tế, biết sẻ chia. Kinh tế có thể chưa sung túc, nhưng các bạn đều có gia đình hạnh phúc, con cháu hiếu nghĩa, thảo hiền và thành đạt.

Tôi nghĩ, có rất nhiều cách để tri ân Thầy Cô và mái trường. Nhưng một trong những cách tri ân có ý nghĩa sâu sắc nhất chính là chọn cho mình sự nghiệp “trồng người”, tiếp bước những người Thầy, người Cô đã từng dạy mình. Sau nhiều năm xa trường, khi kết nối lại với nhau, chúng tôi rất vui và tự hào khi điểm danh ở ba lớp K5 có tới 9 cựu học sinh trở thành Thầy giáo, Cô giáo ở nhiều cấp học, từ Tiểu học, THCS đến Cao đẳng, Đại học. Đó là Vũ Thu Thảo, Cử nhân Đại học Sư phạm Tiểu học, nguyên giáo viên Trường Tiểu học Tân Triều, nhiều năm làm Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, Tiểu học Đại Yên. Trương Cẩm Tú, nguyên Bí thư Chi đoàn lớp, Cử nhân Đại học Sư phạm Ngữ văn, nhiều năm là Hiệu trưởng Trường Tiểu học Thực nghiệm quận Ba Đình, Hà Nội và Trường Công nghệ Giáo dục Hà Nội. Phan Bá Trinh, Cử nhân Đại học Sư phạm Tiếng Nga. Đỗ Thị Nhuần, Cử nhân Cao đẳng Sư phạm Tiếng Anh. Chử Thị Hiền và Nguyễn Thị An, Cử nhân Cao đẳng Sư phạm Toán – Lý. Nguyễn Loan Phương, Cử nhân Cao đẳng Sư phạm Giáo dục Thể chất. Mỗi lần gặp nhau, Loan Phương lại ríu rít nhắc về đội bóng chuyền sáu người của lớp: Loan Phương, Đỗ Sửu, Ngô Lư, Lục Nga, … Ngày ấy, đội chúng tôi đã nhiều lần thi đấu giao lưu với đội 9C và lần nào cũng bị các bạn hạ “te tua”. Vậy mà có một lần, thật bất ngờ, chỉ sau hai hiệp đấu, chúng tôi đã thắng! Thầy Trần Đình Hưng, chủ nhiệm lớp 9A và là Tổng chỉ huy đội tuyển thể dục thể thao toàn trường, khen đội lớp A hôm nay có nhiều cố gắng, thể lực và kỹ thuật giao bóng tiến bộ vượt bậc. Cả đội sung sướng và hả hê lắm! Nhưng vài tiếng sau, một bạn trong đội đối phương ghé tai bật mí: Hóa ra hôm trước, thầy Hưng đã “gà” đội bạn, bảo các bạn “cho chúng tôi thắng một trận” – bởi phải biết dìu dắt nhau, phải có chiến lược “cùng thắng”; cứ thua mãi thì người ta chán, bỏ cuộc thì còn ai để chơi, còn ai để thi đấu mà phân thắng – thua ? Lúc ấy, cả đội chúng tôi mới bừng tỉnh và càng khâm phục Thầy. Thầy Hưng không chỉ dạy chuyên môn, mà còn dạy chúng tôi tâm lý học đường, tâm lý lứa tuổi và kỹ năng sống qua từng buổi tập. Có lẽ chính những bài học ấy đã theo Loan Phương suốt cuộc đời,  để rồi sau này Phương cũng trở thành giáo viên thể dục, tiếp bước người Thầy năm xưa. Biểu tượng về thầy Trần Đình Hưng còn gắn với nhiều thành tích thể dục thể thao của Nhà trường trong các kỳ thi thể thao học sinh cấp 3 thành phố Hà Nội năm ấy. Bạn Nguyễn Thúy Ngần đạt giải Nhất chạy Việt dã và giải Ba chạy tiếp sức cùng đội điền kinh nữ của Nhà trường. Bạn Lục Nga đạt giải Nhất môn “Bắn súng 10 viên không bệ tỳ”,… Những thành tích ấy hôm nay đã trở thành ký ức, nhưng niềm vui và niềm tự hào thì vẫn còn nguyên.

Những người học trò tiếp tục hành trình

Bạn Ninh Quang Thăng, sau 50 năm chia xa mới kết nối lại được với lớp. Trong ngày lớp đón bạn tại Hà Nội, chúng tôi mới biết Thăng đã đạt danh hiệu Nhà giáo Ưu tú, từng giữ chức Trưởng phòng Quản lý đào tạo, Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh.

Còn nghề dạy học đến với tôi như một định mệnh, và cũng rất tình cờ. Năm 1973, tôi dự thi Đại học Sư phạm môn Toán với điểm thi khá cao, gần gấp đôi điểm sàn của trường. Nhưng không hiểu vì sao đến giữa tháng 11, trong khi bạn bè cùng lớp, cùng xóm đã nhập học hết, tôi vẫn không nhận được giấy gọi. Tôi buồn bã, sốt ruột nhưng không biết hỏi ai. Bỗng một ngày, khoảng tuần đầu tháng 11/1973, một em học sinh C3 Ngọc Hồi khóa sau, gần nhà tôi, đến bảo: “Cô giáo Phạm Thị Cậy – dạy Địa – nhắn chị đến Trường ngay!” Tôi hối hả đạp xe đến trường. Thấy tôi, Cô rất mừng. Cô đưa tôi xem một lá đơn cứu xét đặc cách cho học sinh Lục Thị Nga, trong đó Cô đã chuẩn bị đầy đủ các nội dung về học lực, tinh thần, thái độ công tác, điểm thi… Sau đó, Cô dẫn tôi lên gặp thầy Nguyễn Mạnh Dung, Bí thư Đoàn trường, để xin nhận xét về năng lực công tác Đoàn; rồi lên gặp thầy Hiệu trưởng Phạm Đắc để xác nhận về đạo đức, tác phong, học lực… Cô hướng dẫn tôi phải đến những đâu, nộp đơn thế nào và động viên tôi cứ yên tâm chờ đợi. Khoảng mười ngày sau, tôi nhận được giấy gọi nhập học Khoa Hóa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ngày 28/11/1973. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng tôi vẫn nhớ. Từ sự việc ấy, tôi luôn tự nhủ: Nếu không có những người Thầy, người Cô Trường Cấp 3 Ngọc Hồi tận tâm truyền thụ kiến thức, hết lòng vì học sinh, thấu hiểu và sẵn sàng giúp đỡ học trò, thì có lẽ đã không có tôi của ngày hôm nay.  Từ năm 1977 đến 1984, tôi là Giảng viên Khoa Sinh – Hóa, Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre, thuộc miền Tây Nam Bộ. Mãi sau này chúng tôi mới biết miền Tây Nam Bộ cũng là nơi chiến trường quen thuộc của bạn Phạm Quang Hiệp trong những năm đóng quân và chiến đấu tại sân bay Trà Nóc, Cần Thơ. Thật tình cờ và cũng thật đặc biệt: Hai cựu học sinh C3 Ngọc Hồi, một người cầm súng, một người cầm phấn, cùng thời gian, cùng chung một chiến tuyến xây dựng miền Tây Nam Bộ. Trong sự nghiệp giáo dục của mình, tôi còn có một cơ hội tri ân Trường THPT Ngọc Hồi mà đến nay tôi vẫn thấy là một kỷ niệm rất đẹp. Khi toàn ngành Giáo dục triển khai Dự án đào tạo lại “Chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên phổ thông”, lúc đó tôi là Tiến sĩ Giáo dục học, Trưởng Khoa Lý luận quản lý và Giáo dục đại cương, Giảng viên cao cấp tại Trường Bồi dưỡng Cán bộ Giáo dục Hà Nội. Tôi đã kịp thời giao chỉ tiêu liên kết, mở lớp đào tạo chuẩn hóa Công nghệ thông tin cho đội ngũ Thầy Cô giáo Trường THPT Ngọc Hồi;  đồng thời trực tiếp đến khai giảng và trao chứng chỉ chuẩn hóa cho các giáo viên hoàn thành chương trình. Có lẽ, đó là một cách rất nhỏ để người học trò năm xưa được trở về tri ân mái trường đã từng nâng bước mình.

Những nghề nghiệp, những cuộc đời

Lớp chúng tôi có hai bạn là cử nhân Đại học Công an: Trương Thanh Tùng và Lâm Việt Hải. Bạn Lâm Việt Hải từng là Cán bộ Cao cấp A84 Bộ Công an, công tác tại phía Nam.

Ba bạn làm bác sĩ là Hoàng Thị Hương, Lê Vân Nga và Lục Tiến Dũng. Bạn Dũng là bác sĩ chuyên khoa I Ngoại – Sản, nguyên Trưởng Khoa Ngoại – Sản. Sau đó, bạn học thêm văn bằng hai Cử nhân Đại học Luật và chuyển về công tác tại Vụ Chính quyền địa phương, Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ, sau đổi tên là Bộ Nội vụ. Ngày còn học ở trường, Dũng học rất giỏi môn Tiếng Nga. Tôi vẫn nhớ mãi một hình ảnh thật đẹp giữa Dũng và thầy giáo dạy Tiếng Nga –  Nguyễn Kỳ Tài. Hai Thầy – Trò ngồi câu cá dưới gốc cây thông, bên mé ao đầu lớp 8D. Thầy say sưa hát bài “Thời thanh niên sôi nổi” bằng tiếng Nga; Dũng ngồi cạnh, mê say thổi kèn harmonica đệm cho Thầy. Một bức tranh giản dị mà nên thơ, hơn nửa thế kỷ rồi vẫn không phai mờ. Tôi chợt nghĩ: Thảo nào mà Dũng học Tiếng Nga giỏi đến thế!

Hai bạn nữ đặc biệt của lớp mà tôi muốn nhắc đến sau cùng, theo nguyên tắc “đầu tiên và cuối cùng”, là Nguyễn Thị Hòa và Ngô Thị Lư.

Bạn Hòa phải rời trường khi năm học cuối còn dang dở vì cả gia đình bị bom B52 Mỹ thảm sát ngày 17/10/1972; bản thân Hòa bị thương nặng. Hòa có năng khiếu viết, nói sắc sảo và có sức thuyết phục. Sau nhiều năm bươn chải với công việc văn phòng, bạn quyết tâm học tập để thực hiện ước mơ, dù có muộn màng. Hòa đã đạt bằng Cử nhân Đại học Báo chí, trở thành nhà báo Thu Hòa, từng đảm nhiệm những vị trí đáng trân trọng như Phó Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương; Trưởng Ban Đảng – Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi nghỉ hưu, bạn chăm chỉ nghiên cứu Phật pháp, tụng kinh, niệm Phật và tu tại gia.

Còn cô bạn nhỏ bé với biệt danh “Lư còi” ngày xưa, nay không những phổng phao, xinh đẹp mà còn trở thành một nhà nghiên cứu khoa học thành đạt – một “hạt tiêu đen” nhưng lại là người có học vị cao nhất lớp về nghiên cứu khoa học. Trước khi nghỉ hưu, bạn công tác tại Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Bạn là Nghiên cứu viên cao cấp, Tiến sĩ Khoa học chuyên ngành Toán – Lý; năm 1990 nhận học vị Tiến sĩ chuyên ngành Toán – Lý tại Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô; năm 1999 nhận học vị Tiến sĩ Khoa học chuyên ngành Toán – Lý tại Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Bạn từng giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng ngành “Các Khoa học Trái đất” qua nhiều nhiệm kỳ.

Nhìn lại những người bạn năm xưa, mỗi người một hoàn cảnh, một nghề nghiệp, một con đường. Có người thành đạt, có người bình dị. Có người đi xa, có người ở lại. Có người đã không còn nữa.

Nhưng với chúng tôi, tất cả đều đáng quý, đáng trân trọng,… Bởi mỗi cuộc đời đều mang theo một phần ký ức của mái trường Ngọc Hồi.

TỰ HÀO VÀ BIẾT ƠN

Kính thưa quý vị!

Mặc dù hiện nay tất cả cựu học sinh các lớp 8D – 9D.A – 10A, niên khóa 1970–1973, đều đã ở tuổi U75, U80; đều đã trở thành cựu chiến binh, cựu giáo chức, cựu bác sĩ, cựu kỹ sư, cựu công nhân, cựu doanh nhân… nhưng ký ức về Thầy Cô, về mái trường Ngọc Hồi vẫn như những biểu tượng thân thương, luôn hiện hữu trong cuộc sống và trong mỗi gia đình chúng tôi.

Chúng tôi vô cùng tự hào về mái trường đã sinh ra những học trò như chúng tôi; và Nhà trường cũng có quyền tự hào về những học trò xưa đã góp phần làm rạng danh Trường trong suốt sáu thập niên qua. Sáu mươi năm – biết bao thế hệ Thầy Cô giáo đã đi qua mái trường này. Có người đã về với đất. Có người nay đã tuổi cao, sức yếu. Nhưng công lao của các Thầy Cô thì vẫn còn mãi.

Cho phép tôi, thay mặt các cựu học sinh U75, U80, được cúi đầu tri ân.

Xin cảm ơn các thế hệ Ban Giám hiệu đã chèo lái con thuyền giáo dục vượt qua bao khó khăn, thử thách.

Xin cảm ơn các Thầy Cô giáo dạy Văn đã cho chúng tôi biết yêu cái đẹp, biết rung động trước những điều tốt lành và biết làm người tử tế.

Xin cảm ơn các Thầy Cô giáo dạy Toán, Lý, Sinh, Hóa, Kỹ thuật,… đã dạy chúng tôi tư duy logic, sự kiên trì và cách giữ cho cuộc sống cân bằng trước những cám dỗ tiêu cực.

Xin cảm ơn các Thầy Cô giáo dạy Thể chất đã dạy chúng tôi biết chăm sóc và nâng niu một cơ thể khỏe mạnh.

Xin cảm ơn các Thầy Cô giáo dạy Sử, dạy Địa đã giúp chúng tôi biết yêu quê hương, đất nước, biết trân trọng truyền thống và hướng về cội nguồn.

Xin cảm ơn các cô chú nhân viên, các bác bảo vệ, các cô lao công – những người âm thầm góp sức giữ cho mái trường luôn sạch đẹp, bình yên.

Nếu không có những người Thầy, người Cô, sẽ không có những nhà khoa học, nhà báo, bác sĩ, giáo viên, bộ đội, công an, công nhân và những công dân tử tế đang sống, làm việc trên khắp mọi miền đất nước và trên thế giới.

Nếu không có mái trường, sẽ không có chúng tôi của ngày hôm nay.

 

 

PHẦN 3

                  LỜI NHẮN NHỦ THẾ HỆ CON CHÁU

Các cháu học sinh thân mến!

Ông Bà muốn nhắn nhủ với các cháu rằng:

Hãy trân trọng từng phút giây được ngồi dưới mái trường, được học tập và trưởng thành bên những người Thầy, người Cô tận tâm.

Hãy tận dụng quãng thời gian tuổi trẻ để phát triển bản thân, không ngừng học hỏi và cố gắng.

Ngày mai, khi bước ra ngoài đời, các cháu sẽ nhận ra rằng những gì mình học được từ Thầy Cô là vô giá, là hành trang không thể thiếu trên mỗi bước đường đời.

Ông Bà biết các cháu hôm nay giỏi lắm: giỏi công nghệ, giỏi ngoại ngữ, giỏi sáng tạo. Ông Bà bây giờ đã U75, U80, nhiều việc còn phải nhờ các cháu chỉ dẫn. Nhưng Ông Bà xin gửi đến các cháu ba điều nhỏ bé:

Thứ nhất – Đừng bao giờ quên gốc rễ.

Các cháu có điện thoại hiện đại, có Zalo, Facebook và nhiều phương tiện kết nối với thế giới, nhưng đừng quên chào hỏi Ông Bà; đừng quên giúp đỡ Bố Mẹ những việc nhỏ trong gia đình; đừng quên ngày 20/11 về thăm Thầy Cô nếu có thể.

Thứ hai – Học không chỉ để thi, mà học để làm người.

Học cách yêu thương, biết tha thứ, biết bao dung; học cách đứng dậy sau những lần vấp ngã; học cách sống tử tế và có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng.

Thứ ba – Hãy ước mơ lớn và hành động nhỏ mỗi ngày.

Không phải ước mơ nào cũng đến ngay, nhưng nếu biết cố gắng từng ngày, những điều tốt đẹp rồi sẽ có cơ hội trở thành hiện thực.

Ông Bà chúc các cháu luôn chăm ngoan, học giỏi, sống tử tế, có ước mơ và có đủ nghị lực để biến những ước mơ đẹp thành hiện thực.

LỜI CUỐI

Sáu mươi năm của một ngôi trường là một chặng đường đáng tự hào.

Nhưng với những người học trò đã rời mái trường hơn nửa thế kỷ, 60 năm ấy còn là một dòng ký ức. Ở đó có tuổi thơ. Có Thầy Cô. Có bè bạn. Có những buổi lao động dựng trường.

Có tiếng trống khai giảng. Có những buổi học giữa thời chiến.

Có những người bạn đã lên đường bảo vệ Tổ quốc. Có những người đã trở về.

Có những người mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.

Và có những người Thầy, người Cô đã âm thầm trao cho chúng tôi kiến thức, niềm tin và cách làm người.

Hôm nay, ở tuổi U75, U80, chúng tôi trở về với mái trường bằng ký ức và lòng biết ơn.

Thời gian đã đi qua rất xa, nhưng có những điều thời gian không thể lấy đi. Đó là tình Thầy – nghĩa bạn – tình yêu đối với mái trường đã trở thành một phần ký ức của cuộc đời.

Xin kính chúc Ban Giám hiệu, các Thầy Cô giáo Trường THPT Ngọc Hồi luôn mạnh khỏe, hạnh phúc.

Chúc mái trường Ngọc Hồi tiếp tục phát triển, trưởng thành và viết thêm nhiều trang đẹp trong hành trình “trồng người”.

Kính chúc Trường THPT Ngọc Hồi tuổi 60 – một chặng đường đáng tự hào – tiếp tục vững bước trên những chặng đường mới!

Trân trọng cảm ơn!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *